Duy Hoàng
hỏi · Luật Bằng, Luật Trắc trong Thơ Đường Luật: Phân biệt và áp dụng?
Luật bằng và luật trắc trong thơ Đường luật
Luật bằng và luật trắc là hai nguyên tắc cơ bản quy định về thanh điệu trong thơ Đường luật, dựa trên việc phân loại các chữ tiếng Việt thành hai nhóm chính:
1. Thanh bằng: Là các chữ không có dấu hoặc có dấu huyền, bao gồm các âm thanh có giọng điệu trầm, ổn định như "minh, lan, trời, tình".
2. Thanh trắc: Là các chữ có dấu sắc, hỏi, ngã hoặc nặng, bao gồm các âm thanh có giọng điệu thay đổi, nhấn mạnh như "sắc, hỏi, ngã, nặng".
***
1. Luật bằng
Đây là loại bài thơ Đường luật có chữ thứ hai của câu đầu tiên thuộc thanh bằng. Theo quy tắc chuẩn:
- Chữ thứ 2, 4, 6 của mỗi câu phải tuân thủ luật đan xen bằng và trắc theo công thức "nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh": tức chữ thứ 1, 3, 5 không cần tuân thủ nghiêm ngặt, còn chữ thứ 2, 4, 6 phải giữ đúng luật.
- Các câu thơ niêm với nhau theo quy tắc: câu 2 niêm với câu 3, câu 4 niêm với câu 5, câu 6 niêm với câu 7, câu 1 niêm với câu 8.
- Vần được gieo ở cuối câu 1, 2, 4, 6, 8 và thường là vần thanh bằng.
Ví dụ tiêu biểu là bài Hỏi Cô Hàng Sách của Hồ Xuân Hương, viết theo luật bằng vần bằng.
***
2. Luật trắc
Đây là loại bài thơ Đường luật có chữ thứ hai của câu đầu tiên thuộc thanh trắc. Quy tắc cơ bản tương tự luật bằng nhưng ngược lại:
- Chữ thứ 2, 4, 6 của mỗi câu cũng phải tuân thủ công thức "nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh".
- Quy tắc niêm giữ nguyên như luật bằng.
- Vần được gieo ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8 nhưng thường là vần thanh trắc.
Ví dụ tiêu biểu là bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, viết theo luật trắc vần bằng.
***
Bạn có muốn tìm hiểu thêm về cách xác định thanh bằng hay thanh trắc của từng chữ trong câu thơ hay phân tích một bài thơ cụ thể theo luật bằng hoặc luật trắc không?
